it's me

it\
it's not hard to do the right thing, but it's hard to know what the fucking right thing is!

archive list

... (1) 15.3 (1) 20.6 (1) 29.4 (1) AFA 2010 (1) Alfresco (1) Allen Hassan (1) Allen Thái (1) ambassador (2) AN NAM gourmet (1) Anh chien tranh (2) animation film (2) apple (1) ashes of time redux (1) Asia Life Magazine (1) Avatar (1) bad mood (1) bangkok (5) Bao Ninh (1) Bar (1) Bay rong (1) Bear (1) Bi (3) Bi đừng sợ (1) BKAV (1) blog (1) book (1) buithacchuyen (1) bìa báo xuân (1) bìa sách (1) Bùi Chí Vinh (1) Bẫy rồng (1) bữa tối (1) cafe (2) Can Tho (1) Cannes (2) Cannes 2010 (3) caovietdung (1) captain (1) Cathy Lynn Vu (1) ccct (1) CEO (1) chaobuoisang (2) charlie (4) chiều xuân (1) Choi voi (2) Christmas Carol (1) ChuHao (1) chulai (1) chơi vơi (2) Chợ hoa. (3) Ciao cafe (1) cinema (8) Clash (2) conduongamnhac (1) cooking (4) crazy (1) cuoituan (3) cuối tuần (6) Cánh diều 2009 (2) Cánh đồng bất tận (1) dangthanhtam (2) DDVN (4) Di (9) Di beo (4) diemquynh (1) dien anh (7) dienanh (6) dinhanhdung (1) dinner (2) Discovery (1) diễn viên (5) documentary film (2) dohung (1) dominic (1) dustin (2) DuyAnh (1) Dòng sông tuổi thơ (1) Dương Thụ (1) early morning rain (1) Exhibition (1) Failure To Atone (1) Fansland (1) fashion (1) film (8) flickr (1) flower (2) FORD (1) FPT (1) Frank Pierson (1) Friday (4) friend (1) Frédérique Pollet Rouyer (1) funny (1) Gaup (2) gianna (1) giấc mơ bay (1) good memories (1) good mood (2) good morning (1) Graham (1) Great DI (1) Guess (1) haiyen (2) hakin (1) hamster (3) hannah Hanoi (1) HAPPY 2010 (1) history film (1) HoangDiep (1) hoasiCom (1) Hoi Thao (1) home (4) hongnhung (1) hothieutri (1) Hue (1) Huong Pagoda (1) huynhthanhthuan (1) huytuan (1) Hà Kin (1) Hà Nội em yêu anh (1) Hồng Ánh (1) Hội An (1) I come with the rain (1) I hate Monday (1) ibm (1) If you want me... (1) interview (6) Inteview Người nổi tiếng (1) ipod (1) jazzy Dạ Lam (1) Joe (1) khoe con (1) kieutrinh (1) kimngoc (1) kiss the rain (1) Kiểm duyệt phim (1) kịch bản (1) LaQuyTung (1) le kien thanh (1) lebakhanhtrinh (1) leminhkhoa (1) lethietcuong (1) leuyennhy (1) LHP (2) LHP16 (13) love (1) luu huynh (1) luuquangvu (2) lysinhsu (1) Lê Hoàng Lan (1) Lê Kien Thành (1) Lê Mạnh Hà (1) Lê Thiết Cương (1) Lê Vượng (1) Lê Đình Y Sa (1) Lưu Quang Vũ (1) lịch sử (1) macbook (1) Mai Thanh Reetech (1) Mai Trọng Tuấn (1) Marc Jacobs (1) Mark Kent (1) masturbate (1) Megastar (1) mekong delta (2) memory (1) Merry Christmas (1) Micheal DiGregorio (2) Microwave... (1) missed call (1) missuniverse (1) Moingay1cuonsach (1) mood (1) moon (1) morning (2) moxie (1) ms.america (1) music (1) mute affairs (1) my book (9) myspace (1) mình nói chuyện tình... (1) Mùa lá rụng (1) Mắt biếc (1) Mỹ Duyên (1) na (1) nghề (1) ngoc (1) ngochiep (1) Ngoi tua man thuye (1) ngu (1) nguyencaoky (2) nguyenhuythiep (1) nguyenlecham (1) nguyenngoc (3) nguyenquanglap (2) nguyenquangsang (2) nguyenthuoc (1) nguyentranquang (1) Nguyễn Huy Tuấn (1) Nguyễn Ngọc tư (3) Nguyễn Phan Quang Bình (1) Ngô Thanh Vân (2) nham (21) nhandam (2) Như chưa hề có cuộc chia ly (3) như một lời chia tay (1) Như Quỳnh (1) nhạt (1) nhảm (9) nhặt đâu đó (1) nice (1) NNT (1) noibuonchientranh (1) Norwegian wood (1) november rain (1) NTV (2) Né Sousz (1) obama (1) Olga Berggoltz (1) oliver stone (1) ONCE (1) ornamental fish (1) Oscar (1) out my window (2) owl and the sparrow (2) painter (4) passport to love (1) peaceful (1) Perfume (2) phamthihue (1) phamxuannguyen (1) Phan Dang Di (5) phan viet (1) Phan Đăng Di (3) phandangdi (10) phanyly (4) PhD (1) Phillip Noyce (1) Phim truyền hình (2) Phongsu (1) Phương Hiền (1) Phỏng vấn đầu năm (1) pilots (1) pix (1) poem (5) press (1) prudential (2) quốc trung (1) rebel (3) Red Bridge (1) ree (1) review (2) Rich Tran (1) rượu (1) sach (3) saigon (1) San Art (1) sapa (1) saturday (1) sen (1) sex (1) SG khi "trà dư tửu hậu" (1) slumdog millionaire (1) song (2) spaghetti (1) stephane (2) sunday (2) sunset (1) Sài gòn (1) Sài Gòn anh yêu em (1) sách (4) sấu (1) take note (1) Tan cung la bien (1) tathingocthao (1) tequila (1) tet (2) the day before you came (1) the end as the sea (1) the second book (2) therebel (1) thesorrowofwar (3) thichminhhien (1) thichnhathanh (1) thinking (2) Thu Uyên (2) thuan (2) Thursday (2) thành chương (1) Thành Lộc (1) Thơ của Hưng (1) Thế giới văn hóa (1) Tim Page (1) tonthatnguyenthiem (1) tran quang (1) trananhhung (5) tranbichngoc (1) trandangkhoa (1) Trang noi day gieng (1) tranhautuan (1) tranthutrang (2) tranvankhe (1) truongsa (15) truyenhinh (1) Trà Giang (1) trẻ (1) Trịnh Hội (1) Tuan Andrew Nguyen (1) Tuyết tùng ơi (1) TVC (2) TVshow (2) Tết 2010 (1) Tết VIỆT trên THANH NIÊN online (1) Unknown number (1) UP (1) usc (1) Valentine Day (1) vampyre (1) vancao (1) vanhoc (1) vesak (4) Viet Phuong (3) vietica (1) Vietnamwork (1) viettu (2) Việt Linh (1) VOV Giao thông (1) VTV1 (1) VUETA (1) vunhattan (1) vuthanhtuanh (1) văn học (1) Wednesday (1) weekend (2) women (1) WORLD OF SMALL ANIMALS (1) xmas (1) xone FM (1) xuất bản (1) Xôi (1) xôi gấc (1) yahoo (2) Yan TV (1) Yanhee (1) yesterday (1) Yiruma (1) Z30A (1) ăn chay (1) điện ảnh (1) Đoàn Công Tính (1) Đoàn Minh Phượng (1) Đào tạo điện ảnh (1) Đường bay vàng (1) Đại gia (1) Đặng Ngọc Khoa (1) Đặng Thành Tâm (1) Đặng THái HUyền (1) Đẹp (2) Để mai tính (1) Đức Huy (1) ốm (1)

Saturday, September 4, 2010

Fansland - Thế giới phim nổi tiếng của Dũng Digital


Bây giờ thì số 84 Lý Thường Kiệt, mảnh đất dành cho người hâm mộ (Fansland) nghệ thuật điện ảnh đích thực ở Hà Nội những năm 1990 đã khép cửa.

Năm 1994, chỉ bằng tình yêu với điện ảnh, Nguyễn Quang Dũng (Dũng Digital – một kỹ sư khoa học) đã cùng bạn bè kết hợp với Phát hành phim Quân đội, Tổng cục Chính trị để cho ra đời một rạp chiếu phim nhỏ giữa HN. Rạp chiếu phim ấy chuyên chiếu những phim kinh điển của thế giới, phim nghệ thuật đương đại… đã trở thành điểm hẹn văn hóa không thể thiếu trong danh mục lựa chọn của các bạn trẻ, các bạn sinh viên yêu điện ảnh 14 năm sau này.

Bởi nỗi khát âm nhạc và điện ảnh

Vào cuối thập niên 80, ở VN thông tin rất nghèo nàn, nhất là mảng âm nhạc và điện ảnh nước ngoài. Có dịp đi nước ngoài, tiếp cận với kho tàng âm nhạc, điện ảnh vĩ đại của nhân loại, Dũng quyết định ở lại châu Âu một thời gian vừa kiếm tiền, vừa thực hiện việc sưu tầm tư liệu cho thư viện âm nhạc và điện ảnh của mình. Anh đã xem rất nhiều tác phẩm điện ảnh với chất lượng rất cao về âm thanh cũng như hình ảnh.

Hầu hết tất cả các thành phố lớn nhỏ của châu Âu đều có rạp chuyên chiếu phim kinh điển của mọi thời đại với tính giáo dục và nhân văn tiến bộ. Các trường ĐH đều có những CLB điện ảnh, phòng chiếu phim kinh điển cho sinh viên. Dũng Digital bỏ ra khá nhiều thời gian đến các CLB đó, vừa xem phim vừa để tìm hiểu. Lúc đó, Dũng mới hiểu chất lượng nội dung và kỹ thuật là hai yếu tố sống còn của phim rạp và tại sao ở nước ngoài, văn hóa xem phim rạp rất phổ biến.

Trong một lần đi chụp ảnh một nơi xa xôi với thế giới văn minh: thủ đô Katmandu của Nepal, nằm trên “Mái nhà của thế giới”, vào những năm 80, Katmandu chỉ có một con phố xe hơi có thể đi lại thoải mái, Dũng đã choáng váng khi đang lang thang giữa chợ thì bỗng lạc vào một phòng chiếu phim địa phương. Những người nội trợ bản xứ vừa bế con vừa mang theo súc vật đang ngồi xem phim trên những chiếc ghế băng. Họ đang xem bản nhựa siêu phẩm Casablanca của Michael Curtiz (1943). Phim rất cũ, mốc và xước.

Còn hơn cả ngạc nhiên và xúc động , chính ý tưởng về Fansland Cinema tại Hà Nội đã nảy sinh từ đây.

Tình yêu cũng cần một phép thử

Làm thế nào để kéo khán giả đến rạp?

Dũng Digital cùng Nhà Hát Tuổi trẻ, lúc đó chị Phạm thị Thành làm giám đốc xin phép Bộ Văn hóa để đứng ra tổ chức LHP âm nhạc lần thứ nhất kéo dài trong một tháng. Anh cùng với một bạn sinh viên là Nguyễn Thanh Hùng (chủ nhiệm CLB Unesco sinh viên, ĐH Xây dựng HN) đi tìm địa điểm cho LHP. Họ quyết định chọn số 84 Lý Thường Kiệt. Đại tá Nguyễn Thanh Sơn, lúc đó là trưởng phòng Phát hành phim Quân đội đã nhiệt tình đồng ý cho LHP được thuê địa điểm trong một tháng.

Sau một tuần lắp đặt máy móc, với sự giúp đỡ của đạo diễn Lưu Nghiệp Quỳnh, anh Dũng cùng bạn bè tổ chức một buổi chiếu phim để giới thiệu với mọi người trong nghành điện ảnh về chất lượng kỹ thuật mới của chiếu bóng hiện đại. Có rất nhiều quan chức điện ảnh đã đến dự như ông Lưu Trọng Hồng, lúc đó là Cục trưởng Cục Điện ảnh, ông Trần Thế Dân cục phó, GĐ các hãng phim, các nhà đạo diễn, quay phim, âm thanh…

Đó là một buổi chiều ngày 25.3.1993 có lẽ là buổi chiếu phim âm thanh nổi chất lượng cao đầu tiên ở VN. Dũng Digital giới thiệu Terminator 2 của James Cameron. Tối 26.3.1993 LHP âm nhạc lần thứ nhất khai mạc, kéo dài một tháng. Giới trẻ và những người yêu nhạc ở HN có dịp được thưởng thức những bữa tiệc âm nhạc lộng lẫy, hơn 50 bộ phim về đề tài âm nhạc, những buổi hoà nhạc vĩ đại nhất trong lịch sử âm nhạc. Khai mạc với November Rain của Guns’n’Roses. Hai tác phẩm được giới yêu rock thích nhất lúc đó là Pink Floyd-The Wall và Woodstock ’69. LHP âm nhạc kết thúc với bản giao hưởng số 9 của Beethoven do Berlin Philharmonic của nhạc trưởng H.V.Karajan biểu diễn.

Phép thử tuyệt vời với một tháng LHP âm nhạc vô cùng thàng công, được giới trẻ háo hức đón nhận thúc đẩy Dũng quyết tâm cho ra mắt CLB phim. Anh đã phải có 18 tháng để chuẩn bị về mọi mặt: trình bày với đại tá Nguyễn Thanh Sơn về ý tưởng, kêu gọi Phát hành phim Quân đội ủng hộ góp sức cho một phép thử đáng giá.

14 năm vòng đời của Fansland

Cái tên Fansland ra đời khi Dũng Digital đang cùng kiến trúc sư Nguyễn Hoàng Phương trang trí cho CLB. Họ muốn một cái tên phải đơn giản, dễ nhớ và chưa ai dùng. Phương gợi ý dùng từ nào có liên quan đến Fan (từ tên C.L.B: Queen’s Fan Club của ban nhạc Queen) và thế là họ quyết định dùng chữ Fansland (mượn ý tưỏng từ cái tự Pepperland (của The Beatles).

Fansland Cinema (Thế giới phim nổi tiếng) ra đời ngày 1.12.1994 nhằm giới thiệu các tác phẩm âm nhạc, nhạc kịch, phim âm nhạc, phim kinh điển của mọi thời đại và các phim đoạt giải thưởng Quốc tế của VN cũng như nước ngoài. Hàng tuần vào chiều chủ nhật, Fansland có buổi sinh hoạt chuyên đề về nghệ thuật điện ảnh, nhằm định hướng cho người xem đến với dòng phim “Không bao giờ chết”.

Vào năm 1996 Cục ĐA Bộ VH đã gửi công văn cho PHP Quân đội khen ngợi và đánh giá cao hoạt động mang đầy ý nghĩa văn hóa. Có thể nói, sự ra đời của Fansland thời điểm ấy như một chất xúc tác để tái khởi động hệ thống chiếu rạp, và Fansland cũng là rạp đầu tiên thực hiện cuộc cách mạng về kỹ thuật chiếu bóng hiện đại. Đến cuối năm 1997, rạp thứ hai có âm thanh nổi ra đời là New Age Cinema của công ty điện ảnh HN. Năm 2000, Bộ Văn hóa quyết định đầu tư cho mỗi tỉnh thành trong cả nước một rạp chiếu phim âm thanh nổi.

Bằng tình yêu, Dũng Digital đã tự tạo ra cho mình cùng bạn bè thói quen xem phim là phải đến rạp. Đó là những ngày rất hạnh phúc bởi Fansland đã vô cùng ý nghĩa với giới trẻ lúc đó, đem đến cho họ một món ăn tinh thần lành mạnh mà rất sang trọng.

Sau ngày đại tá Nguyễn Thanh Sơn nghỉ hưu, những người lãnh đạo sau đó không thể thấu hiểu cũng như cùng chia sẻ những khó khăn của Fansland. Không còn ai quan tâm đến hoạt động văn hóa theo họ là bé nhỏ đó nữa. Thêm lý do khách quan, thế hệ trẻ sau này thích những loại hình giải trí mang nhiều tính hình thức và phong trào hơn. Cùng nhiều lý do kỹ thuật khác, cơ sở vật chất của Fansland Cinema xuống cấp nghiêm trọng.

Đã có lúc, một bạn trẻ nói với Dũng: rạp Fansland bây giờ xấu nhất VN!

Dũng không cố được, anh nghĩ: đến lúc phải nghỉ thôi.

Ngày 31.3.2008 là buổi chiếu phim cuối cùng của Fansland với bộ phim hài hay nhất mọi thời đại: Somelike It Hot (1961). Khán giả cười phá lên và vỗ tay khi câu thoại cuối cùng cất lên: “Không có ai là hoàn hảo cả”. Đó là những tiếng cười cuối cùng của khán giả.

Dũng bảo: Tôi rất tiếc vì một hoạt động văn hóa rất tốt, rất lành mạnh mà không thể có cách tồn tại, nhiều fans viết thư cho tôi gần như khóc khi nghe tin “Stop”. Nhưng có thể làm gì hơn?

Những dấu ấn với âm nhạc và điện ảnh của Dũng Digital

Tháng 12.1989, Dũng Digital ra mắt thư viện âm nhạc Digital Music tại 49 Quang Trung - HN (cái tên Dũng Digital bắt nguồn từ đây).

Tháng 4.1994 Dũng góp sức cùng bạn bè sáng lập kênh VTV3 và trở thành người giới thiệu âm nhạc cũng như điện ảnh nước ngoài đầu tiên của VTV3 lúc đó.

Ngày 26-3-1993 Dũng cùng Nhà hát Tuổi trẻ tổ chức LHP Âm nhạc lần thứ 1.

Ngày1.12.1994, Fansland Cinema (Thế giới phim nổi tiếng) chính thức đi vào hoạt động.

Năm 1996 đánh dấu việc Dũng Digital trở thành người giới thiệu nhạc Rock, Jazz, Classic trên sóng FM-100Mz của VOV, chuyên mục mang tên 33-1/3 vòng phút được giới trẻ rất thích.

Năm 1999, Dũng cùng Đạo diễn Nguyễn bá Anh Vũ thực hiện chuyên mục Góc nhìn Điện ảnh trong chương trình Điện ảnh chiều thứ 7 phát trên sóng VTV3 .

25-12-2002 Dũng cùng 10 người bạn lần đầu tiên nhập khẩu phim từ Holywood. Lễ ra mắt “Người Mỹ trầm lặng” với sự góp mặt của đạo diễn Phillip Noyce.

Ngày 31.3.2008, Fansland chính thức đóng cửa sau 14 năm.


Cho một Cinema Paradiso đã mất

Cái rạp đó hay lắm, tôi nhớ năm 1994 khi tôi vào học điện ảnh thì trường SK&ĐA chỉ có một rạp nhỏ, cũ với máy chiếu than, xem phim thì phập phù. Rồi Fansland ra đời, chiếu toàn những phim hay mà trước đó sinh viên điện ảnh cũng chỉ nghe chứ chưa được xem bao giờ. Rạp nhỏ, ghế gỗ cứng lại khá hẹp nhưng mua vé sát giờ thì chỉ cón nước ngồi sát màn ảnh, cái dàn âm thanh lạp thể "rất xịn" lúc ấy cứ rền vang như sắp phá sập cái phòng chiếu cũ. Không khí kích động, say mê. Khán giả im phăng phắc... One Upon a Time in America cua Sergio Leone hơn 3 tiếng, giải lao 10 phút giữa buổi chiếu nhưng xem đến lần thứ 3 phim ấy chưa thấy ai bỏ về giữa chừng. The Piano nhạc rất hay, cái lông chim bay bay trong Forest Gump nếu ngồi sát có cảm giác nó sắp bay vào mặt mình. Đến hồi xem Cinema Paradiso (Thiên đường điện ảnh) cảnh cái rạp cũ cũ bị phá ai cũng buồn... Rồi Fansland cũng đóng cửa, bây giờ mỗi lần đi qua đó, tôi lại nghĩ đến đám bụi bay mù mịt khi rạp đổ trong cái phim kia…


(Đạo diễn Phan Đăng Di)

Cát Khuê

Tuesday, June 15, 2010

Johnny Trí Nguyễn

Khi phim thiếu, nhạc thừa…

Miệng thế gian như làn sóng biển, lớp sóng này xô vào thì lớp sóng khác đã nhanh chóng phủ lấp. Chuyện của Johnny Trí Nguyễn và Ngô Thanh Vân đã không còn là đề tài để người ta bàn cãi lúc trà dư tửu hậu nữa, có chăng là sự tò mò không phải khi nào cũng thiện ý, rằng họ sẽ ở bên nhau được bao lâu?

Vân nổi tiếng là khéo léo trong cư xử với báo chí, thế nên theo thời gian, Johnny Trí Nguyễn cũng chẳng phải là người “dại dột” khi phát ngôn. Điều dễ nhận ra khi tiếp xúc với họ là cả hai người rất biết cách kiểm soát được thông tin về mối quan hệ “tranh tối, tranh sáng” của mình thông qua việc phô bày những “bằng chứng ngoại phạm”. Ừ thì ai cũng cho rằng họ là tình nhân của nhau, nhưng thử chứng minh xem?

Hẹn Johnny Trí Nguyễn không bao giờ khó, và anh cũng chẳng hỏi trước rằng nhà báo muốn gặp anh để làm gì. Thế nhưng, nếu nuôi hi vọng ban đầu rằng cuộc phỏng vấn sẽ cho ta cơ hội một lần “nhòm qua lỗ khóa nhà người khác” thì quên đi, dù rất thân thiện, Trí Nguyễn cũng không dễ bị “đánh lừa” đến thế!

Tại sao Vân phải hỏi ý kiến của tôi?

Thời làm Bẫy rồng Vân có nói cô ấy đã phải dạy anh nhảy và anh học rất nhanh. Anh có mặt thường xuyên trong những buổi trực tiếp Bước nhảy Hoàn vũ mà Ngô Thanh Vân là thí sinh, anh có thích nhảy không?

Tôi không biết nhảy một cách chuyên nghiệp, bài bản, nhảy ở bar hay vui vẻ với bạn bè thì đương nhiên. Những kiểu nhảy đó đâu có cấu trúc gì đâu mà không thể? Ai chẳng biết nhảy? Cái show như Bước nhảy hoàn vũ thì lâu lâu mở TV tôi cũng có coi, xem vậy thôi nhưng nếu nói có hứng thú như với võ thuật không thì câu trả lời là không.

Hình như Bước nhảy Hoàn vũ có nhược điểm là quay trên TV không hấp dẫn, ít ra có thể so sánh đơn giản như các chương trình trượt băng nghệ thuật của nước ngoài thực hiện vẫn phát sóng?

Đương nhiên xem trực tiếp thì hay hơn là xem qua TV rồi. Nhưng mấy lần đi coi trực tiếp thì tôi cũng chẳng coi được nhiều vì tôi còn phải quay video cho Vân nữa. Nên cuối cùng tôi cũng có xem được trực tiếp đâu? Tôi phải nhìn qua cái máy quay phim mà. Những người khác thì tôi xem được trực tiếp, Vân thì không.

Cảm giác của anh ra sao? Người Việt mình có thích hợp với một môn nghệ thuật ít nhiều mang đậm tính Tây phương như khiêu vũ không?

Tôi thấy khiêu vũ đâu có gì mới lạ đâu? Nó xưa rồi! Bước nhảy hoàn vũ vừa giống thể thao vừa giống nghệ thuật, xem cũng vui.

Khi nhận lời tham gia chương trình này, Vân có hỏi ý kiến của anh không?

(cười phá lên) Không, làm gì phải hỏi ý kiến của tôi?

Vậy anh có bất ngờ không, hay thích thú? Cảm xúc của anh thế nào?

Tôi không quan tâm về nó, có nghe Vân tập thì okie thôi. Nhưng không quan tâm nhiều, ngày đầu tiên xem thì tôi thấy nó cũng có gì đó để coi.

Trước khi trở về Việt Nam anh cũng đã từng đứng trên sân khấu, cùng “nghề” với Ngô Thanh Vân. Vậy khi đó cái tên Ngô Thanh Vân có ấn tượng gì với anh?

À, trước khi về Việt Nam thì tôi hoàn toàn không biết tên Ngô Thanh Vân nhé. Sau đó tôi có coi mấy buổi chụp hình hay mấy tờ báo thì biết cô ấy.

Tôi không quan tâm cô ta làm gì ngoài đời

Anh coi Ngô Thanh Vân đóng phim trước hay coi Ngô Thanh Vân hát trên sân khấu trước?

Lúc tôi gặp Ngô Thanh Vân tôi chưa xem phim mà cũng chưa xem hát. Gặp trong buổi casting thôi.

Cảm giác của anh khi nhìn thấy cô ấy? Anh nghĩ cô ấy là gương mặt của sân khấu hay điện ảnh?

Lúc đó tôi cũng không có ấn tượng gì về cô ấy. Tôi chỉ chú ý đến việc kiếm một người đóng vai Thúy trong Dòng máu anh hùng mà thôi. Hướng của tôi lúc đó chỉ là tìm được vai Thúy mà thôi. Mà Vân thì không hợp với vai đó. Vân trắng quá, Tây quá, không giống một cô nghĩa quân trong suy nghĩ của tôi. Sau khi Vân cast xong, chuẩn bị ra về, đạo diễn Charlie Nguyễn có nói một câu làm ai có mặt cũng phải ngạc nhiên: “Em này đóng phim hài chắc hay lắm!”. Lúc đó ai cũng thấy mắc cười chút xíu vì lẽ ra không nên nói với một cô diễn viên xa lạ câu đó, mình đâu có quen họ đâu? Tôi không biết Vân nghĩ sao về câu đó, nhưng nếu tôi là Vân, chắc tôi cũng thấy nhột lắm! (cười) Nhưng vài ngày sau khi tổng kết lại casting thì anh Charlie lại thấy Ngô Thanh Vân diễn thích hợp nhất. Khi anh Charlie nói vậy thì tôi cũng ngạc nhiên bởi tôi vẫn nghĩ Vân không có hợp vai.

Khi dạy võ cho Vân, anh thấy năng lực vũ đạo của cô ấy đã giúp gì cho anh? Cô ấy có nhạy cảm võ thuật không?

Dù đồng ý với đạo diễn thì tôi cũng không đặt được lòng tin vào Vân, rằng cô ấy sẽ đạt tiêu chuẩn mà mình muốn cho vai Thúy. Tôi phân vân lắm. Vân đã thuyết phục chúng tôi bằng chính sự chịu khó học hỏi của cô ấy. Thời gian đầu khi tôi đi chọn cảnh ở Hà Nội, tôi có gọi cho Vân nói có nhóm cascadeur đang tập, Vân vào tập cùng họ đi. Khi đó Vân chưa ký hợp đồng, chắc chắn họ cũng ngần ngại tập. Nhưng cô ấy đã sẵn sàng tập, các cascadeur khen cô ấy tập rất tốt.

Và hình như sau đó anh mới đi xem vai diễn của Vân trong phim 2 trong 1? Anh có thất vọng về vai diễn của Vân không?

À, Vân có đưa vé cho tôi và Charlie đi coi, lúc đó khoảng 1 tháng sau khi Vân đã nhận vai. Tôi cũng chả quan tâm đến việc diễn viên của Dòng máu anh hùng có phải là một ngôi sao hay không. Chỉ cần cô ấy hợp vai và đạt được tiêu chuẩn võ thuật, thế cũng là quá khó rồi. Phim đó thì đúng là cũng có nhiều cái lủng củng. Tuy nhiên tôi không lo ngại gì vì tôi đã tập với Vân khoảng 1 tháng đủ để hiểu năng lực của cô ấy, và hơn nữa, chúng tôi làm một phim hoàn toàn khác với phim 2 trong 1 mà?

Hình như anh chưa hiểu câu hỏi của tôi, tôi muốn hỏi thời điểm đó anh đã quan tâm đến Vân như một Ngô Thanh Vân ở ngoài đời chưa hay vẫn chỉ là một cô Thúy mà anh có trách nhiệm phải đào tạo cho vai diễn? Vân có nói với anh về đam mê ca nhạc của cô ấy không?

Tôi không quan tâm cô ta làm gì ở ngoài đời. Tất nhiên tôi biết Vân là ca sĩ, vì thế nên khi làm hợp đồng với cô ấy tôi có nói thẳng là phim này cần đánh võ mà thời gian chuẩn bị để quay không còn nhiều. Vân phải tập mỗi ngày 2 lần liên tục, sẽ không còn thời giờ cho Vân đi hát show. Tôi cũng chẳng quan tâm đến chuyện Vân sẽ không có thời gian đi hát, tôi chỉ nghĩ cô ta phải làm vậy thì mình mới làm được phim thôi. Khó khăn là của Vân chứ không phải của tôi. Hai tháng đó là 2 tháng Noel và Tết, những tháng gặt hái của ca sĩ. Lúc đó thì tôi không quan tâm, nhưng sau này nhìn lại thì tôi thấy đó là một sự hi sinh đáng kể!

Khi dứt ra khỏi những dự án điện ảnh, người ta nhìn thấy anh cũng tham gia vào một số dự án ca nhạc của Vân. Cô Vân trong ca nhạc với anh, hiện hữu là gì?

Tôi có đi xem Vân hát vài lần, không có nhiều. Tôi thấy khả năng biểu diễn của Vân có sức thu hút. Khi Vân hát, có nhiều cái để mình xem lắm, nó rất là sống động.

Anh từng sống ở Mỹ đủ để va chạm không ít với công nghệ giải trí Mỹ. Anh nhìn thấy ở Vân những tố chất nào tương đồng hoặc còn hạn chế nếu cô ấy đi theo con đường ca nhạc?

Tôi va chạm nhưng không nằm trong thế giới ấy, tất cả chỉ là xem qua thôi. Nên tôi không thể đưa ra những suy xét theo câu hỏi của bạn được!

Tôi có bao giờ tiếc nuối Vân trong ca nhạc đâu?

Chỉ để so sánh thôi, như là một cách cho điểm giữa ca nhạc và điện ảnh của Ngô Thanh Vân, anh sẽ chấm thế nào?

Mỗi khi đóng một phim là người diễn viên đã hóa thân vào một nhân vật, các nhân vật ở các phim là khác nhau. Diễn viên mà đóng đạt thật đạt trong một thể loại phim đã là hay lắm rồi, còn nếu có thể hóa thân vào nhiều dạng vai diễn khác nhau cho nhiều thể loại phim khác nhau thì tuyệt vời. Hay nói cách khác, điện ảnh đơn giản là diễn viên nhập được vai tốt, chuyên nghiệp là họ đã được thừa nhận là một ngôi sao rồi. Ở Vân, tôi nhìn thấy những tố chất đó, thêm nữa, cách cô ấy làm việc trong điện ảnh cũng rất tốt, rất thích hợp. Điện ảnh cần sự bền chí lắm, phim lúc nào cũng quay dài, tốn thời gian, nhịp độ làm việc phải giữ vững, giữ đều. Ca nhạc thì khác, mỗi ca sĩ có một hướng đi, có một lối trình diễn và mình cũng rất khó để nói họ làm tốt hay không vì điều đó còn phụ thuộc vào sở thích âm nhạc của mỗi khán giả. Không cách nào mà mình làm cho mọi người đều thích mình được, như có ca sĩ hát ai cũng khen hết mà tôi không sao thích được anh ta, thì cũng đâu nói lên rằng anh ta hát dở hay hát tuyệt vời đâu? Còn khi là diễn viên, khán giả có thể không thích nhân vật đó nhưng phải thừa nhận diễn viên đã diễn tốt hoặc không tốt, ca sĩ thì người ta thể hiện chính con người của người ta khi hát, yêu hoặc ghét, tùy lòng.

Vậy anh có thích một Ngô Thanh Vân hát không? Hay để dễ hơn cho anh, lại là một sự so sánh nữa như câu hỏi trên?

Tôi là người làm điện ảnh, tôi thấy điện ảnh thì đang thiếu, mà ca nhạc thì thừa! Tháng nào cũng lên mấy album, mấy chục người, có nhất thiết phải có thêm ca sĩ nữa không?

Nghĩa là anh hoàn toàn ủng hộ việc Ngô Thanh Vân rời bỏ ca nhạc để toàn tâm toàn ý cho điện ảnh?

Tôi đâu có bao giờ tiếc nuối về sở thích ca nhạc của Vân đâu?

Nhưng thời điểm này, hình như người ta gọi đó là thời điểm vàng khi một entertainer của làng nhạc là Hồ Ngọc Hà đang đi vắng. Có phải là cơ hội cho rất nhiều ca sĩ giống cách của Hà Hồ khi thị trường đang tạm trống chỗ không? Và sự tỏa sáng của Ngô Thanh Vân trong Bước nhảy Hoàn vũ làm người ta đặt một dấu hỏi rất lớn cho sự ngờ vực rằng liệu Vân có chính là người thế chỗ đó không?

Tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi không quan tâm đến việc ai sẽ lên làm entertainer của Việt Nam. Có nhiều ca sĩ lắm chứ. Nếu Hà tạm vắng một thời gian thì cũng là một thời gian ngắn ngủi thôi, giống như giả sử cô ấy nhận một vai diễn dài vậy. Và ngược lại, khi có cô ấy thì các ca sĩ khác cũng vẫn đi hát đấy thôi?

Nếu Vân muốn thay đổi, đó là tùy vào cô ấy

Điện ảnh đã và vẫn đang nhắc nhớ rất nhiều những mối quan hệ từ nhà sản xuất, đạo diễn với một diễn viên ruột nào đó, để hỏi anh một câu, nếu anh bắt đầu một dự án, cơ hội dành cho Vân sẽ chiếm bao nhiêu suy nghĩ của anh?

Quan trọng nhất là câu chuyện, phải đi theo hướng đi của câu chuyện và nhiều khi câu chuyện mới quyết định việc ai sẽ là diễn viên của phim. Diễn viên không ai muốn bị gò trong một kiểu vai, điều này rất quan trọng cho diễn viên có hứng thú với nghề nghiệp của họ. Vân cũng thế, cô ấy phải có nhiều sự lựa chọn khác nhau chứ tại sao lại bắt cô ấy trung thành với các dự án của tôi?

Ở Mỹ thì khác, một năm họ làm hàng trăm phim và cơ hội chia khá đều cho những ngôi sao đã có tên tuổi. Vai này có thể đỡ cho vai kia. Ở ta thì thấy mà thương vì vài năm mới chỉ có một phim làm tốt, được khán giả nhắc đến thôi, giả sử như Vân thất bại trong Bẫy rồng thì có khi 3, 4 năm sau cô ấy mới được thừa nhận lại nếu thành công trong vai diễn mới, đúng không?

Tôi luôn nhìn nhận Vân xa hơn những cảnh hành động được khán giả và báo chí ưu ái rồi gọi cô ấy là “đả nữ”. Nếu cô ấy không thành công với Bẫy rồng – một kiểu phim hành động, tôi tin Vân cũng có thể có nhiều cơ hội với các dạng phim khác.

Anh có mạnh dạn thay đổi hình ảnh “đả nữ” của Vân cho một hình tượng khác không?

Câu hỏi này không phải để dành cho tôi. Là dành cho Vân, Vân có muốn hay không là tùy Vân thôi.

Nhưng anh còn là một Producer, anh có sẵn lòng đẩy Vân vào một vai khác với sở trường đã được khán giả thừa nhận như Vân không? Hình như Vân cũng rất thích vai Mai trong phim Để Mai tính?

Nếu Vân là Mai, Vân cũng sẽ đóng tốt vai đó. Tôi là nhà sản xuất thì lúc nào cũng chỉ thích làm những phim hành động. Còn khi là diễn viên, nhân vật nào tôi cũng muốn thử sức, miễn nhân vật đó hấp dẫn và đem lại cho mình những thử thách thú vị. Chẳng biết khi nào tôi mới không sản xuất phim hành động ở Việt Nam. Vì tôi thấy đây là loại phim khó làm, ít người làm mà tôi lại tự tin để làm thì tại sao tôi không tiếp tục làm?

Một người bạn như Ngô Thanh Vân ở ngoài đời thường, có làm cho anh thấy thú vị không? Vì có nhiều người nói rằng Ngô Thanh Vân quá cá tính và Johnny Trí Nguyễn không phải là “chịu được” Ngô Thanh Vân mà thực ra là “chịu đựng” Ngô Thanh Vân?

Tôi hiểu ý bạn muốn nói người khác nói gì. Trên trường quay thường có vô số chuyện sóng gió xảy ra. Mình đã làm phim là phải chấp nhận điều đó thôi, tranh cãi đôi khi cũng tốt để thay đổi. Tôi đến với cuộc đời ở ngoài thế nào cũng giống như trên phim trường thôi, những sóng gió không làm tôi thay đổi. Tôi cũng không nhớ những chuyện cãi nhau lặt vặt trên trường quay sau mỗi ngày vì tôi quan niệm tranh luận là cần thiết. Ngoài đời tôi không phải là người thích tranh cãi.

Vân gặp rất nhiều chuyện tạm gọi là “thị phi”. Nhưng cô ấy lại bước qua nó bình an vì những việc cô ấy làm được bằng tài năng của mình. Anh có tin vào số phận không nhỉ?

Tôi cũng không biết tôi có tin vào số phận hay không? Nhưng gia đình tôi theo đạo Phật, tôi tin vào luật luân hồi, tin vào sự có “duyên”, duyên đến và duyên đi.

Vân hợp tác với nhiều người và cũng tai tiếng vì chính những sự hợp tác đó. Có thể đó cũng chỉ là điều tiếng nhưng mật độ khá dày của các điều tiếng đó khiến cho người ta thầm thì sau lưng cô ấy rằng Vân có bùa, ai nghĩ sao?

Tôi không nghĩ vậy. Tôi tin và biết về bùa ngải, trong kịch bản sắp tới của tôi cũng là thể loại action nhưng fantasy chút xíu. Và tôi bỏ phần bùa ngải vào trong phim. Với tôi bùa ngải là một dòng chảy văn hóa ngầm của Việt Nam. Nó không đùng đùng ở trên nhưng nó vẫn chảy ngầm ở dưới.

Vậy nếu ngầm thì làm sao anh dám khẳng định Vân không có bùa ngải?

Tại vì tôi không thấy sự bùa ngải gì ở Vân hết, cũng chưa nhìn thấy cái bùa hay ngải nào của Vân. Tôi không thấy thì làm sao tôi biết được. Chỉ khẳng định rằng từ hồi quen Vân ở Dòng máu anh hùng đến giờ, chưa thấy Vân dùng bùa hay chơi ngải bao giờ hết!

Cảm ơn anh.

Khi ngựa hoang mơ làm ngựa chiến

Tôi mất 2 ngày để cân nhắc với lời đề nghị viết cho Đẹp về Ngô Thanh Vân. Không phải vì tôi mất công reseach hoặc gặp ai đó để hỏi thêm cho rõ, đơn giản vì tôi thấy quá lười. Nếu viết về Vân ngay sau thời điểm Dòng máu anh hùng đang cho cô quầng sáng mới, sẽ không mất thời gian nghĩ lâu đến thế. Vân bây giờ mảng tối và sáng đều lồ lộ đến mức chẳng phải là nhà báo cũng cứ biết tỏng Vân thế nào. Thế mới khó viết. Nhưng bắt vào mạch viết thì hóa ra bức chân dung này không quá khó để di màu.



Vân vốn không phải sinh ra đã là diễn viên. Như thể nụ cười, khuôn mặt, thân hình ấy là để dành cho một thứ giải trí vốn phù du, khó đoán định chân giá trị hơn điện ảnh. Đó có thể là ca nhạc, chính xác hơn là nhạc thị trường - thứ ca nhạc mà Vân đã từng dốc sức theo đuổi nhưng không thành hay nói đúng là cô có tên mà không được trọng.

Vân không có giọng hát.

Bởi vậy, dù đã xác định mình là một hình mẫu giải trí đa năng nhưng cũng không thể phủ nhận được sự thật là Vân đã thất bại ngay trong một thị trường nhạc vốn quá dễ tính và nhỏ hẹp như Việt Nam. Bản chất hiếu thắng khiến cho cô không muốn nhìn vào sự thật cay đắng đó, Vân ru ngủ mình trong một nhóm khán giả riêng ái mộ cô và dường như ngay cả những scandal mà cô vướng phải cũng là một giá đỡ vô hình cho cô… tăng level lên một chút!

Ngược thời gian, để nhìn vào điểm đầu khi Ngô Thanh Vân trở về từ Na Uy, ở cái thuở những nghệ sĩ gốc Việt tham gia vào làng giải trí ở quê nhà còn là những mảnh rời rạc và mờ nhạt. Sớm nhìn ra khoảng trống của vô số cơ hội bỏ ngỏ, Vân tận dụng những thế mạnh của mình để gắng chiếm lĩnh một thị trường lúc nào cũng khát sự mới lạ. Nhan sắc khác lạ, những bước tiến có chiến lược cụ thể rõ ràng, Vân đã bắt đầu bằng những bước chân trên sàn catwalk rồi ca hát, đóng phim. Cảm giác nếu chế tạo bom nguyên tử là một trong số những lĩnh vực thuộc về công nghệ giải trí và nhanh nổi tiếng thì có lẽ Vân cũng không ngại dấn thân vào.

Người ta nhớ đến tên và trọng Vân từ vai cô dân quân Thúy trong
Dòng máu anh hùng
vì người ta chỉ nhìn thấy Thúy chứ không phải một cô Ngô Thanh Vân sexy trên sân khấu, cười to nói lớn ở ngoài đời. Lớp khán giả bội thực với phim mì ăn liền mà Diễm Hương, Mộng Vân đánh võ như múa quạt, bội thực với những phim chưởng hành động kiểu HongKong hay Đài Loan nghèo nội dung, nông tâm lý… bỗng nhiên được mãn nhãn với những màn hành động made in Việt Nam (Việt kiều). Sự hớn hở vì tự ái dân tộc được ve vuốt của khán giả không phải là điều quá khó hiểu. Vân cũng “ăn theo” được vòng nguyệt quế bất ngờ ấy.

Vân bước lên hàng sao.

Đạo diễn Phan Đăng Di, người có lần thổ lộ rằng ước mơ của anh là được làm một phim chưởng khi được hỏi về cảm nhận của anh với Ngô Thanh Vân, anh ngập ngừng cho rằng Vân ăn hình, có thần thái rất hợp với phim hành động. Hỏi nếu làm phim chưởng anh có chọn nàng, Di chỉ cười. Tôi thì hiểu cái cười nhè nhẹ ấy của Di. Vân là người dễ đọc, đọc một cách mạch lạc tâm can cũng như tham vọng của cô - không khó với bất kỳ ai làm đạo diễn.
Dòng máu anh hùng tạo cho cô một thế đứng, nhưng nó cũng hút hết của cô mọi sở trường. Hay nói chính xác hơn, với điện ảnh, duyên của Vân như thế là tròn đầy. Tôi tin, sau Dòng máu anh hùng, Vân sẽ chỉ có những vai diễn na ná như thế mà khó lòng khác đi, khó lòng đa diện như ước mong của cô. Trừ phi, Vân nhảy qua một lĩnh vực khác.




Bẫy rồng chính là một minh chứng cho quan điểm đó. Vân không chỉ là diễn viên, Vân làm producer, Vân diễn xuất vai chính, Vân là PR cho phim…

Nếu như
Dòng máu anh hùng là một bộ phim hành động mà mỗi diễn viên có một vai trò nhất định để làm nên tổng thể thành công phim thì Bẫy rồng hơi khác. Trinh – Phượng Hoàng là nhân vật chính, nhân vật đinh và được dành nhiều đất diễn nhất đến độ cứ tưởng các chi tiết “linh tinh” khác chỉ để phục vụ cho sự bừng sáng của Phượng Hoàng. Một người bạn của tôi nói rằng: Coi Ngô Thanh Vân diễn trong Bẫy rồng
, thấy nhiều đoạn cô diễn xuất thần, mà nhiều chỗ anh cũng thấy… ngượng thay cho Vân! Có lẽ vì sự hiếu thắng một lần nữa lại che mờ lý trí và sự tỉnh táo (nếu có) ở Ngô Thanh Vân. Cô muốn được người ta tâm phục ở cái mà với cô còn thiếu trong sự nhìn nhận từ phía khán giả. Rằng có một hình ảnh đả nữ Ngô Thanh Vân không chỉ biết đá, đánh với các thế võ hóc hiểm như cái thế kẹp cổ đàn ông (mà nhiều người đùa là với Vân không xa lạ), mà còn biết diễn những đoạn nội tâm phức tạp bằng khuôn mặt, đôi mắt, thần thái biểu cảm nữa.

Tiếc là đoạn có lẽ Vân tâm đắc nhất, được dựng vào trailer, ảnh tràn lan cùng những lời phát biểu của chính Vân về cảm xúc cô đã trải qua… là đoạn Vân ôm Trí Nguyễn khóc bên bờ sông lại không đủ sức làm người ta khóc trước khi Vân khóc (như cách Vân vẫn lý giải về nguyên tắc diễn xuất mà Vân được đạo diễn Charlie Nguyễn chỉ dạy).

Với Phan Đăng Di, diễn viên luôn chỉ là những vật liệu quý mà anh sẽ “dàn xếp” sao đó để họ trong phim anh chính là những nhân vật anh đã hình dung trong đầu, không dấu vết của họ ngoài đời thực. Nhưng không dễ để tìm ra một đạo diễn đủ “máu lạnh” để khuất phục một Ngô Thanh Vân đang rắn đanh kiêu hãnh. Rất nhiều trường đoạn trong
Bẫy rồng Vân diễn xuất với gương mặt căng cứng đến… tức cười để ai có kiến thức về điện ảnh sẽ không khỏi tự hỏi, không biết ông đạo diễn nhìn đi đâu khi cứ cho Vân mang bộ mặt hầm hầm đó đi xuyên qua phim! Nhưng chắc là chưa có ai đủ can đảm nói thẳng với Vân điều đó, cũng như thành công về doanh thu của Bẫy rồng
cùng dồn dập những bài báo với lời tung hô vô số cánh khiến cho Vân thêm tự tin tiếp tục mang kịch bản phim hành động mới ngạo nghễ đi vào lịch sử điện ảnh Việt Nam như vào chỗ không người.

Ừ thì Vân cũng không giấu là mình khôn ngoan.

Nhưng cái cách cô liến láu nói như “át giọng người khác” và tưởng là rất thẳng thắn ấy thì vòng vo nó vẫn ăm ắp những mâu thuẫn. Tưởng là khôn mà khôn quá dồn ra dại. Vân luôn gắng phô bày xung quanh cuộc sống của cô những gì cô kiểm soát được. Gia đình, anh em, Việt Nam và Na Uy, Johnny Trí Nguyễn cùng những người đàn ông khác, đạo Phật và căn nhà ngập tràn không khí của Phật pháp không ít lần lên báo, dự án mới và cũ… Vân tạo nên nó và sống trong nó mỗi ngày đến mức tôi không nghi ngờ nếu cô đột ngột tuyên ngôn rằng mình vốn dĩ sinh ra trong văn hóa ấy.

Vân biết mình, biết người.

Cái khôn của Vân là ở chỗ ấy. Vân sẽ chẳng dại nói về cái gì mà Vân biết người đối diện thông hiểu hơn cô, nhưng sẽ thẳng tay đàn áp nếu phía bên kia yếu bóng vía. Hôm nay với người này cô có thể thú nhận mình không hiểu mấy về đạo Phật, chỉ biết chắp tay cầu mẹ Quan Âm trước mỗi công việc định làm… thì hôm sau đã thấy cô ở một bài báo khác với những phát ngôn “thông tuệ” lại khiến cho người biết phải cười thầm.

Ấy chính là cái dại của Vân.

Từng nói không ít lần rằng cô tâm đắc với nhận xét của đạo diễn Charlie Nguyễn, là cô giống con ngựa hoang mà nếu được huấn luyện sẽ trở thành ngựa chiến. Vân cố ý bỏ quên cái tên mình đã từng được gọi với nhiều ẩn ý hơn, cái tên mà nhạc sĩ Quốc Bảo chọn cho cô khi cô ở bên anh ta: Virus NTV. Giống những đặc tính của những con virus, Vân đi từ chính con người đến với con người và chắc chắn cô không dành cho những cơ thể chưa tiêm vaccine hay quá thiếu sức đề kháng. Truyền thông trong nước không chống đỡ được những lớp lang bài bản Vân xếp đặt gọn ghẽ cho hình ảnh của mình hoàn hảo. Đọc những comment trên mạng phản hồi về các bài Vân trả lời phỏng vấn, không thấy có những lý lẽ thuyết phục bẻ lại được ý chí của Vân, người ta chỉ có thể căn cứ vào những chuẩn mực đạo đức để “mắng nhiếc” cô...

Mà đạo đức thật ra lại là một khái niệm quá mơ hồ!

Nhạc sĩ Quốc Bảo hay Johnny Trí Nguyễn cũng chỉ là đàn ông, khó qua ải mỹ nhân cũng là chuyện thường tình. Đàn bà có thể tha thứ cho đàn ông cái “tội” to đùng ấy, nhưng đừng mong họ thể tất với chính những người cùng giới tính với họ khi người đàn ông của họ bị “xâm chiếm”.

Tôi cá rằng đến 80% những người ghét Vân là đàn bà, nhưng không phải nghĩa là Vân sẽ có nhiều hơn 20% đàn ông yêu quý cô. Chữ “sợ” của đàn ông dành cho Vân thường là đa nghĩa. Sợ bị quyến rũ, sợ bị chiếm hữu, sợ bị khuất phục và cả sợ một người mang hình hài phụ nữ nhưng bản chất giống mình! Hiểu cách nào tùy vào sự tự tin và từng thời điểm Ngô Thanh Vân lựa chọn.

Thành công của Ngô Thanh Vân có được với sự nghiệp điện ảnh được cô thể hiện như một quá trình khổ luyện nhọc công. Không ai phủ nhận điều đó nhưng chắc chắn phải cộng thêm vào rất nhiều may mắn nữa. Như cái cách cô đến với cuộc đời mà dường như trong miệng ngậm chiếc thìa bằng bạc, để cánh cửa nào cô cũng biết cách mở bung ra.

Vân đang thành công và đang bước tiếp như không có gì ngăn cản nổi. Cô bắt đầu thấy cái áo giải trí trong nước dần chật chội với cô. Ước mong được đi xa hơn ám ảnh Vân. Cô đã có những dự án vượt qua ngoài biên giới, dù chẳng biết những phim đó cô diễn xuất thế nào. Người Trung Quốc có vui miệng tán tụng cô như một tiểu Chương Tử Di cũng bởi vì hình ảnh Thúy trong
Dòng máu anh hùng
chinh phục họ.

Vân ngày càng mạnh mẽ để khẳng định sự độc lập của mình trong lĩnh vực nghệ thuật mà cô theo đuổi. Nhưng bản chất của nghệ thuật thứ bảy là sự sáng tạo của cả một êkíp mà trong đó, diễn viên chỉ là “vật liệu” của đạo diễn. Điều người ta cần ở mỗi viên gạch là độ bền chắc, sức kết dính để giúp ngôi nhà đứng vững, chứ không phải là sự nổi trội quá mức cần thiết của nó. Nếu Vân quên đi mất sự sáng tạo của những cộng sự từng sát cánh bên cô để tự tin một cánh én của mình có thể làm nên cả mùa xuân, thì chưa chắc,
Dòng máu anh hùng đã đủ giúp cô vượt qua hết được những Bẫy rồng để con ngựa hoang thỏa giấc mơ trở thành ngựa chiến!